Đông A Gia phái

Đông A Gia phái

Share

Đông A Gia phái - võ thuật của Hoàng tộc Trần triều. Việt Nam Bắc Ninh ngày nay.
- Dòng họ Trần qua 700 năm ở đất Kinh Bắc phân ra nhiều nhánh. Trước khi qua đời.

- Về truyền thống võ thuật Đông A từ cụ Thái Sư Trần Thủ Độ lập lên triều Trần cho đến Đức thánh Trần Hung Đạo đã lập lên chiến tích sông Bạch Đằng lịch sử.
- Đông A Gia phái đã làm lên Triều đại Nhà Trần Hùng mạnh.
- (Xin tóm tắt như sau).
- Năm 227 trước Công lịch có Phương Chính Hầu Trần Tự Minh được vua An Dương Vương thu nạp, trở thành vị tướng tài ba cùng tướng Cao Lỗ giúp vua chống lại

Bai đòn gánh Đông a Gia phái quay cham Trung đánh 01/06/2026

Trước Khi quân Nguyên Mông sang xâm lược Đại Việt. Sứ giả nhà Nguyên có hỏi Đức Thanh Trần Hưng Đạo, binh sỹ của Đại Việt đâu, nhìn không có thấy.
Cụ Trần Hưng Đạo có chỉ xuống ruộng thấy người Phu nông đang cầm cày với con trâu đi trước. và nói đây là binh sỹ và tướng lĩnh của Đại Việt chúng tôi, Sứ giả nhà Nguyên cười và có vẻ coi thường, nhưng họ đâu có hiểu được chính sách (Ngụ binh cư nông) của các cụ Nhà Trần lấy dân làm gốc đã có gần 1000 năm. vì khi không có giặc thì tất cả vẫn hoạt động sản xuất nông nghiệp như người bình thường. Khi có chiến trận thì là chiến sự toàn dân đồng lòng còn lưu truyền đến ngày nay.
Sau đây Trung xin gửi lại (bài đòn gánh phần 2 của Đông A Gia Phái), nông cụ thường ngày của các cụ nhà ta càn lưu trữ đến ngày này. Một tài sản vô giá của vương triều nhà trần truyền lại, chúng ta phải có tinh thần lưu giữ lại cho con cháu.
Trân trọng cảm ơn!

LỤC TƯỚNG TRẦN TRIỀU ( LỤC BỘ ĐỨC THÁNH ÔNG).
Nhắc đến tín ngưỡng thờ Trần Triều không thể không nhắc đến vai trò quan trọng của Lục tướng trần triều.Lục Tướng Trần Triều, là các vị Tướng có công lớn với đất nước, đã phò tá Đức ông Hưng Đạo Đại Vương ba lần thắng Quân Nguyên Mông , tuy không mang họ Trần nhưng thuộc về Công Đồng Trần Triều và luôn được phối tự ở các đền thờ Trần Triều. Các hàng lục bộ đều mặc áo đỏ, về bắt tà, đi trên than lửa, lười cày nung nóng.
Lục Bộ Đức Thánh Ông Gồm :
1.ĐIỆN TIỀN PHÒ MÃ PHẠM TƯỚNG QUÂN:
Phạm Tướng Quân- Phạm Ngũ Lão (chữ Hán: 范五老; 1255–1320) là Tướng nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông là người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, Hải Dương (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, Việt Nam). Theo sách Tông phả kỷ yếu tân biên của Phạm Côn Sơn dẫn gia phả họ Phạm, ông là cháu 8 đời của tướng Phạm Hạp thời nhà Đinh.
Ông được Trần Hưng Đạo gả con gái là Quận chúa Anh Nguyên ( Vương cô Đệ nhị). Con gái của Phạm Ngũ Lão là Tĩnh Huệ Công chúa là thứ phi của Vua Anh Tông
Phạm Ngũ Lão đã 3 lần cất quân đi trừng phạt sự xâm chiếm của Quân Ai Lao, hai lần nam chinh đánh thắng quân Chiêm Thành. Ông không chỉ có tài về quân sự, mà còn để lại nhiều bài thơ về chí trai, lòng yêu nước ( Thuật hoài, Viếng Thượng Tướng quốc công Hưng đạo đại vương)
Ngày 1/11/ 1320 Phạm Ngũ Lão mất, hưởng thọ 66 tuổi và được Vua Trần Minh Tông phong là “ Thượng đẳng phúc thần “. Ông được dân làng Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, lập đền thờ ngay trên nền nhà cũ của gia đình ông ( Đền Phù Ủng). Ông còn được phối thờ tại Đền Kiếp Bạc, Chí Linh, Hải Dương.
Đức Thánh Phạm khi về đồng ngài ngự áo đỏ, khăn đỏ, múa chấp kích hoặc giáo xuyên vào đùi hoặc thanh long đâo, ngài về tiễn đàn nhà Trần
2.- TẢ YẾT KIÊU TƯỚNG QUÂN
Yết Kiêu (1242-1301; chữ Hán: 歇驕) , tên thật là Phạm Hữu Thế. Ai trong số những người họ Phạm chúng ta cũng luôn tự hào về tướng quân Yết Kiêu – Phạm Hữu Thế, một vị tướng tài giỏi của nhà Trần, một gia nô hết mực trung thành của Hưng Đạo Đại Vương.
Ông là anh hùng chống giặc ngoại xâm vào đời nhà Trần, người có công giúp Nhà Trần chống giặc Nguyên Mông vào thế kỷ XIII với biệt tài thủy chiến. Ông là người bơi lặn giỏi, đã sử dụng tài của mình để đục thuyền của quân xâm lược Nguyên Mông. Yết Kiêu được tôn là Ông Tổ của ngành bơi lăn nước ta. Ông được vua Trần phong tặng “ Trần triều hữu tướng đệ nhất bộ đô soái thủy quân, Tước hầu”
Khi ông mất, Vua Trần truyền lập Đền thờ ông ở bờ sông làng Hạ Bì quê ông – Đền Quát( tên nôm là Làng Quát), thuộc tả ngạn sông Đò Đáy, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, Việt Nam. Tên của ông được đặt tên cho một phố ở Hà Nội, nơi có trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội mà thường được biết đến với tên gọi Mỹ thuật Yết Kiêu Ngoài ra ông còn được thờ tại Làng Nam Hải, xã Kênh Giang, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, tại Kênh Giang ông được coi là vị Thành Hoàng của Xã
3.- HỮU DÃ TƯỢNG TƯỚNG QUÂN:
Dã Tượng (chữ Hán: 野象) và Yết Kiêu là hai gia thần thân tín của Trần Hưng Đạo. Dã Tượng là người có tài thuần phục và chỉ huy đội voi (Dã Tượng có nghĩa là voi rừng)(tượng binh) ở Vạn Kiếp còn Yết Kiêu là người chỉ huy đội lính đánh sông.
Đoạn văn sau trích từ Đại Việt sử ký toàn thư có nhắc đến ông:
Trước đây, Hưng Đạo Vương có người nô là Dã Tượng và Yết Kiêu, đối xử rất hậu. Khi quân Nguyên tới, Yết Kiêu giữ thuyền ở Bãi Tân, Dã Tượng thì đi theo. Đến lúc quan quân thu trận, thuỷ quân tan cả. Hưng Đạo Vương định rút theo lối chân núi. Dã Tượng nói:
"Yết Kiêu chưa thấy Đại Vương thì nhất định không dời thuyền".
Dã tượng đã lập nhiều chiến công trong Kháng chiến chống Nguyên - Mông, đời Trần. Ông cùng với Yết Kiêu, Cao Mang, Đại Hành và Nguyễn Địa Lô là 5 thuộc hạ tài giỏi và trung thành của Hưng Đạo Vương. Trong cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên, ông đóng góp đắc lực, tận tình bảo vệ chủ tướng. Chính ông và Yết Kiêu có công lớn trong trận bắt sống Toa Đô. Ông nổi tiếng là một tướng dũng cảm tài giỏi dưới trướng của Trần Hưng Đạo.
Nơi thờ chính của tướng quân Dã Tượng hiện nay có hai nơi:
Đình Câu Dương ở làng Câu Dương, thuộc xã Thụy Hưng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, có bài vị thờ Dã Tượng
Đền A Sào thuộc xã An Thái, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Đền thờ Trần Hưng Đạo cùng hai tướng Yết Kiêu và Dã Tượng. A Sào là nơi công phủ khi Hưng Đạo Vương 18 tuổi mới được phong tước Thượng Vị Hầu, vâng mệnh đến trông coi kho gạo của triều đình trong hơn 3 năm. Thời Trần Nhân Tông, ông giữ chức Tiết chế thống lĩnh các doanh thủy bộ, đánh tan 50 vạn quân Nguyên sang xâm lược nước ta do Thoát Hoan cầm đầu. Vua truyền cho thôn A Sào sửa chữa nhà cũ để làm sinh từ của vương. Sau khi ông mất, trong đền thờ tượng của ông và cả tượng Yết Kiêu, Dã Tượng. Bên bờ sông Hóa gần đó có tượng một con voi do Hưng Đạo Vương sai đắp để tưởng nhớ con voi trận mà ngài cưỡi khi qua sông Hóa đuổi quân Ô Mã Nhi. Voi lội bùn sâu không rút chân lên được nên phải bỏ lại. Bến sông nơi ấy được gọi là Bến Voi.
4. NGHĨA XUYÊN TƯỚNG QUÂN – AN NGHĨA ĐẠI VƯƠNG:
Nguyễn Chế Nghĩa, thành hoàng làng Cuối, người xã Cối Xuyên, huyện Trường Tân, lộ Hồng Châu (Cối Xuyên nhất xã lục thôn Gồm Đức Phong, Đại Liêu, Mỹ Long, Hoa Điếm, Tiên Nha, Vĩnh Dụ) nay là hai xã Hội Xuyên và Phương Điếm - huyện Gia Lộc . Ngay từ nhỏ ông đã có sức khỏe lạ thường, giỏi cưỡi ngựa và sử dụng giáo dài, thần tiễn, thiên văn binh pháp đều tinh thông, lại thích ngâm vịnh và làm thơ, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, văn võ song toàn. Ngài là vị tướng tài của nhà Trần và được Vua phong là “ Khống bắc tướng quân”.
Võ công của ngài đã góp nhiều với triều Trần đánh đuổi quân Nguyên ra ngoài bờ cõi
Dẹp giặc xong nhà Vua lại giao cho ngài đi tổng trấn Lạng Sơn một thời gian ngài lại đi xứ Bắc quốc sau đó ngài được triệu về triều giữ nhiều chức như thái uý, đô úy Nghĩa Xuyên Công, Ngài lần lượt được phong thượng tướng, rồi đại tướng quân, Vua Trần đã gả công chúa Nguyệt Hoa cho ngài ( Lúc ngài là thượng tướng quân)
Ngài là bậc lão thần Lần lượt thờ các Vua Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông nhà Trần với tước công và có lúc được giao đứng đầu văn võ, có lúc được giao cả chức lễ bộ thượng thư. Ngài rất cương trực đã giúp nhiều cho việc triều chính ở triều đình và phủ dụ thần dân nhất là những việc cấy hái tầm tang đê điều.
Đến đời Trần Dụ Tông thì Ngài bị ám hại. Vua còn dặn quan thái sử không được chép tên ngài vào sử ký. Thế là nỗi bi ai oan khuất của ngài không được rửa sạch mặc dầu triều đình vẫn làm Vương Lễ an táng và phong thần cho ngài là " An Nghĩa đại Vương"
Công chúa Nguyệt Hoa và thượng vị hầu Nguyễn Sùng Phúc ( Con trai của ngài) không chịu nhận chức tước gì nữa, sau khi ngài mất chỉ ở nhà thủ tiết.
Đến đời vua Lê Thái Tổ đã phong thần cho ngài: " Thượng đẳng phúc thần vạn đại huyệt thực" và đến đời Vua Lê Anh Tôn niên hiệu Hồng Phúc đã giao cho bộ lễ Viết lại Ngọc Phả của ngài xếp cuốn ngọc phả này vào sách bách linh của bộ lễ.
Bản triều đã truy ơn và tiếp tục phong thần cho ngài: Tuấn lương đại Vương rồi quang y đại Vương cùng sửa lại ngọc phả trong sách bách linh của bộ lễ
Ngài mất ngày 28/8 âm lịch. Vua Lê Thái Tổ phong ngài “ Thượng đẳng phúc thần vạn đại huyệt thực”. Ngài được nhân dân Kiêu Kỵ tôn làm thành hoàng làng và lập Đền thờ từ đó. Ở Làng Cối Xuyên cũng có Đền Thờ và Lăng mộ Nguyễn Chế Nghĩa
5. HÙNG THẮNG TƯỚNG QUÂN ( QUAN QUẬN)
Tướng quân Vi Hùng Thắng con cụ Phúc Tính và bà Từ Duyên. Là hậu duệ 6 đời của cụ tổ họ Vi ở Làng Vai, xã Kim Sơn, huyện Lục Ngạn ngày nay.
Cùng với các Tướng Trần Sầm, Đỗ Hựu, Đỗ Vỹ, Nguyễn An, Trần Bách, ông đã tiêu diệt quân Nguyên Mông lần thứ hai. Trong trận chiến Quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ 3 ông đã anh dũng hy sinh ngày 20/2/ 1288. Thi hài ông cùng các tiểu tướng hy sinh được nhân dân chôn cất tại rừng bên, sau này nhân dân thôn Hà Thị thành kính lập đền thờ ông ( Đền Khánh Vân, đồi Tân Dã, thôn Hà Thị, nay là Thanh An, thị trấn Chũ, dân vùng chũ vẫn quen gọi là Đền Quan Quận ). Tượng ngài được đặt ngồi chính gian giữa, hai bên thờ các tướng thời Trần đã cùng ông đánh giặc như Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão…
Sau khi cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông thắng lợi, Vua phong ngài bằng hàng chữ:
Sinh ra làm tướng, chết đi làm thần
Tên tuổi Hùng Thắng oai phong linh ứng cùng mặt trời, mặt trăng
6. HUYỀN QUANG TƯỚNG QUÂN:
Đặng Huyền Quang sinh ngày 13/3/ 1244, tại xã Vị Hoàng, Nam Định. Ngài là con ông Đặng Huyền Chung và bà Lê Thị Chinh, cả hai cụ thân sinh đều là con quan, dòng dõi nhà thi lễ. Đặng Huyền Quang 17 tuổi thuộc hết sách binh thư, tài ba võ nghệ hơn người. Vào tuổi 40 Quân Nguyên Mông xâm lược, ngài chiêu mộ 2000 quân dẫn đến Triều đình xin xung trận và được Vua phong là “ Đô Chỉ Huy Sứ Tướng Quân”. Dưới sự chỉ huy của Hưng Đạo Đại Vương ngài cùng các tướng nhà Trần đã đánh tan Quân Nguyên Mông.
Đặng Huyền Quang mất ngày 10/10/ 1285 tại Dụ Tái, Cập Hiền, Thanh Hà, Hải Dương.

Bai đòn gánh Đông a Gia phái quay cham Trung đánh Bai đòn gánh Đông a Gia phái quay cham Trung đánh

18/04/2026
31/03/2026

Không ồn ào, không vội vàng , đến lúc cần sức khỏe là trên hết, lui về Rừng làm lưu trú và sản xuất nông nghiệp chất lượng cao, hòa với thiên nhiên.
Anh chị người Italian. Đam mê tập võ và khí công Đông A Gia phái căn bản tại Trinh Nguyen Garden - TN Group tại Ông Lang Phú quốc

31/03/2026

Hai bố con đi tắm biển Ông Lang Phú Quốc

Photos from Đông A Gia phái's post 05/11/2024
Photos from Đông A Gia phái's post 05/11/2024

Thông báo tin Buồn
Sư phụ Hiểu,của chúng ta đã từ trần vào hồi 15h00 ngày 5 tháng 11 năm 2024 tại gia đỉnh.
Thay mặt ACE toàn thể Đông A Gia Phái thông báo cùng anh em Đồng môn xa gần biết.
Trân trọng!

05/11/2024

Thông báo tin Buồn
Thầy Hiểu,của chúng ta đã từ trần vào hồi 15h00 ngày 5 tháng 11 năm 2024 tại gia đỉnh.
Thay mặt ACE toàn thể Đông A Gia Phái thông báo cùng anh em Đồng môn xa gần biết.
Trân trọng!

Photos from Đông A Gia phái's post 04/11/2023

VÌ SAO NHIỀU NƠI TRÊN ĐẤT NƯỚC NHẬT BẢN NHÂN DÂN LẬP ĐỀN THỜ HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN !?

Sức mạnh bí ẩn khiến Mông Cổ "thua đau" Đại Việt và Nhật Bản.

Thu phục được gần như toàn bộ châu Á và châu Âu, nhưng đội quân Mông Cổ phải chùn bước sau nhiều lần thảm bại trước Đại Việt và Nhật Bản.

Điểm lại những thất bại ê chề của đội quân Mông Cổ:

Vào thế kỷ thứ 13, đại quân Mông Cổ bình định Trung Hoa, sau đó lại tiếp tục phát động hai chiến dịch chinh phục Nhật Bản và ba lần tiến hành chiến tranh xâm lược Đại Việt.

Tuy nhiên, đội quân tưởng như “bất khả chiến bại” ấy lại liên tiếp “thua đau” trước hai đất nước này.

Đầu năm 1258, Nguyên triều cử tướng Ngột Lương Hợp Thai dẫn quân tiến đánh Thăng Long nhưng không thành. Tiếp sau đó, vào năm 1285, quân Nguyên lại ồ ạt tiến quân hòng đánh chiếm Đại Việt lần thứ hai.

Tôn thất nhà Trần dưới sự chỉ đạo của vua Trần và “Hưng Đạo Đại vương” Trần Quốc Tuấn đã tiến hành phản chiến thành công. Quân dân khí thế bừng bừng, trên tay người nào cũng xăm hai chữ “sát Thát”(giết giặc Mông Cổ).

Sau khi chiếm lại được thành Thăng Long, toàn dân Đại Việt tiến hành phản chiến, đánh tan quân xâm lược.

Hốt Tất Liệt lúc này đang tổ chức tiến công Nhật Bản lần thứ hai với hàng ngàn chiến thuyền lớn nhất thời đó, nghe tin quân Nguyên “thua đau” trước Đại Việt vô cùng giận dữ, liền ra lệnh tạm dừng cuộc chiến tranh với Nhật, nhanh chóng đưa 10 vạn quân xuống phía nam, tiến đánh triều Trần lần thứ ba.

Đất nước Nhật Bản vui mừng khôn xiết trước họa ngoại xâm được tiêu trừ. Hồi đó, người Nhât đã buôn bán thương thuyền với Đại Việt, nên họ biết công lao to lớn của vị anh hùng dân tộc Việt Hưng Đạo đại vương đánh tan đội quân hùng mạnh nhất thời đó. Người Nhật đã lập nhiều đền thờ ông ở Osaka, Tokyo,... Chúng tôi sẽ khảo sát và công bố cụ thể sau.

Trần Quốc Tuấn khi đó dùng “cách đánh du kích”, lại kết hợp “chiến thuật cọc gỗ”, lợi dụng thủy triều trên cửa sông Bạch Đằng, chặt đứt đội thủy quân tiếp viện của Nguyên Mông, bắt sống tướng cầm đầu là Ô Mã Nhi cùng 400 thuyền lương.

Đội thiết kỵ Mông Cổ từng quét ngang đại lục Á – Âu, thu phục được cả những nước lớn như Trung Hoa và Nga, nhưng khi tiến quân xuống phía Nam lại bị một nước nhỏ như Đại Việt cho “nếm mùi thất bại”.

Sau ba lần thua đau, Hốt Tất Liệt cũng phải từ bỏ ý định xâm lược Đại Việt.

Điều này cũng lặp lại tương tự ở đảo quốc Nhật Bản.

Lần đầu tiên quân Mông Cổ giao chiến với Nhật Bản là vào năm 1274. Khi đó, 2 vạn 5 ngàn quân Nguyên Mông sau 20 ngày chiến đấu liên tiếp đã bị quân dân Nhật Bản hạ gục.

Nhờ có những võ sĩ trong đội kỵ binh nặng liều mình vượt mưa tên, đội quân Nhật Bản khi ấy đã đánh sâu vào lòng địch, buộc quân Mông Cổ phải đánh cận chiến, cũng khiến cho quân địch mất đi ưu thế.

Đội quân nổi danh là thiện chiến của Nguyên triều khi ấy dù đã hao tốn phân nửa binh lực vẫn không thể bảo vệ trận địa, đành phải lên thuyền rút lui.

Sau khi hoàn toàn chinh phục được Trung Hoa, Hốt Tất Liệt phát động cuộc hải chiến lần thứ hai với Nhật Bản.

Dù được đầu tư binh lực và tài lực gấp 10 lần so với trước đó, nhưng quân Mông Cổ vẫn không chiếm được ưu thế, một lần nữa bị quân dân đảo quốc này đánh lui.

Ba lần thua đau trước Đại Việt và hai lần thất bại trước Nhật Bản đã khiến đội quân thiết kỵ Mông Cổ đánh mất danh hiệu “bất khả chiến bại” của mình.

Vậy, sức mạnh gì đã khiến cho hai đất nước này có thể đại thắng trước một đội quân mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ?

Hé lộ nguồn gốc sức mạnh tinh thần của Việt Nam và Nhật Bản:

Thời cổ đại, Đại Việt và Nhật Bản từng có mối quan hệ gần gũi với Trung Hoa, hoặc từng là chư hầu, hoặc có thời gian trở thành thuộc địa. Văn hóa của hai nước này cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ văn hóa Trung Quốc.

Bản thân văn hóa Việt Nam cũng từng có thời kỳ du nhập tư tưởng của Nho gia. Tuy nhiên những điều này vẫn không thể “đồng hóa” được phong tục và quan niệm của người dân Việt Nam và Nhật Bản.

Nho gia vốn có quan điểm “thượng đức, ức võ” (coi trọng đạo đức hơn võ thuật). Trong khi đó, dù tiếp thu tư tưởng của Nho gia, nhưng Nhật Bản và Việt Nam vẫn luôn giữ truyền thống “dũng mãnh, thượng võ, có nghị lực chiến đấu”.

Điều này có liên quan chặt chẽ tới môi trường sinh sống và bối cảnh văn hóa của hai nước này.

Từ môi trường sống mà đánh giá, Nhật Bản và Việt Nam khi xưa đều không phải là “bộ lạc thảo nguyên”. Nhưng bởi vì sở hữu vị trí địa lý đặc biệt, hai đất nước này từ rất sớm đã thường xuyên phải chịu cảnh binh đao.

Vì vậy, những cuộc tranh đấu khốc liệt diễn ra tại hai nơi này cũng không thua kém so với các bộ lạc ở thảo nguyên.

Trải qua nhiều cuộc chiến tranh, nội chiến liên miên, hai quốc gia này có những trang sử đầy khói lửa, nhưng cũng lưu danh không ít anh hùng thiện chiến. Những nhân vật này nhận được sự sùng bái và tôn kính từ nhân dân.

“Văn hóa võ sĩ”,“văn hóa chiến đấu” từ đây cũng được hình thành và trở thành đặc điểm nổi bật của Nhật Bản và Việt Nam.

Trải qua ba trận chiến chống Nguyên Mông, Đại Việt đã có không ít những bậc anh hùng được lưu danh sử sách. Tiêu biểu phải kể tới “Hưng Đạo Vương” Trần Quốc Tuấn.

Đất Việt từ Bắc chí Nam đều có đền thờ ông, việc nhang khói vẫn tiếp diễn trong suốt hơn 720 năm qua. Vậy mới thấy chính việc tôn kính các bậc anh hùng đã trở thành truyền thống văn hóa quý báu, đồng thời khích lệ cho “văn hóa chiến đấu” của nhân dân ta.

Nhờ công lao to lớn trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, Trần Quốc Tuấn được tôn là "Hưng Đạo Vương" và được thờ phụng trên khắp cả nước ta và Nhật Bản.

Một sử gia hiện đại của Việt Nam từng nhận định:

“Truyền thống của dân tộc Việt Nam trước giờ chính là toàn dân là binh. Nhân dân ta hằng ngày trên ruộng cầm cày, cuốc làm nông dân, nhưng tới một ngày cần cầm thương, thì tất cả đều có thể ra chiến trường chiến đấu.”

Trong cuộc sống thường ngày, nhân dân của hai nước là những con người bình thường, khiêm tốn, hiểu lễ nghĩa, nhưng khi bước lên chiến trường, họ đều là những đấu sĩ đáng gờm.

Vậy mới nói, mặc dù tiếp nhận văn hóa Nho gia, nhưng người Việt và người Nhật không hề bị đồng hóa, mà ngược lại còn bảo vệ, giữ gìn “dân phong mạnh mẽ” của dân tộc mình.

- Thứ nhất là bởi Nho giáo chỉ có ảnh hưởng sâu sắc tới các tầng lớp trên trong xã hội, không phổ biến trong các tầng lớp bình dân.

- Thứ hai là bởi các nước này cần những yếu tố thực tế hơn để sinh tồn trong hoàn cảnh khắc nghiệt chứ không phải là những thứ mang tính lý thuyết.

Không chỉ nhờ vào vị trí địa lý đặc biệt, mà chính “văn hóa võ sĩ”, “văn hóa chiến đấu” cùng tinh thần thượng võ và lòng đoàn kết đã khiến Việt Nam và Nhật Bản chiến thắng không chỉ đội thiết kỵ Nguyên Mông mà còn hạ gục nhiều đối thủ đáng gờm khác.

Want your business to be the top-listed Gym/sports Facility in Hai Phong?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Address


Tổ Đường Đông A Gia Phái Tọa Lạc Số 36 Ngõ 2 Đặng Kim Nở, Phường Cát Dài, Quận Lê Chân, Thành Phố Hải Phòng
Hai Phong
18000