Chùm Sao Kê

Chùm Sao Kê

Share

Đây là fanpage Những Chòm Sao Kê, là nơi chia sẻ những điều hay và thú vị trong cuộc sống

02/09/2024

KHƠI DẬY KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2021-2030 đã xác định: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa, con người Việt Nam và sức mạnh thời đại, huy động mọi nguồn lực, phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phấn đấu đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao”.

Suốt thời gian rất dài, người Việt Nam thế hệ này qua thế hệ khác đều đeo đẳng khái niệm “nước đói nghèo, lạc hậu”. Trong sách giáo khoa tiểu học có những câu thơ rất hay như “Việt Nam đất nước ta ơi/ Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn”, hay “Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi/ Rừng cọ đồi chè đồng xanh ngào ngạt”, tuy nhiên đó thường là những câu thơ ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người. Còn về kinh tế, “rừng vàng, biển bạc” ý chỉ giàu mạnh về tài nguyên, còn hiện trạng, bao thế hệ người Việt Nam sinh ra, lớn lên trong chiến tranh, rồi hòa bình nhưng ý thức về một đất nước với nền kinh tế thua bạn kém bè vẫn đeo đuổi mãi.

Đất nước đổi mới và những thành tựu liên tiếp đã khỏa lấp dần cụm từ đói nghèo, lạc hậu. Thay vào đó, chúng ta quen thuộc hơn với những khái niệm như công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế... Giờ đây là đột phá về tư duy, khát vọng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chính thức đặt cụm từ “nước phát triển, có thu nhập cao” và xác định lộ trình đi tới rất rõ ràng: năm 2045. Lần đầu tiên, khái niệm này và mục tiêu này được đưa vào văn kiện của Đảng, thay thế những khái niệm đã kéo dài mấy chục năm qua như “cơ bản trở thành nước công nghiệp”, “thu nhập trung bình cao”. Vậy, diện mạo một đất nước phát triển, thu nhập cao là thế nào và liệu một nước Việt Nam từ kém phát triển, chậm phát triển, nay là đang phát triển có thể bứt phá để đi đến mục tiêu, khát vọng đó trong chỉ hơn 2 thập kỷ nữa?

Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TƯ, ngày 17/11/2022 về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết đánh giá, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là chủ trương xuyên suốt và nhất quán của Ðảng, Nhà nước ta trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau hơn 35 năm đổi mới, nhất là trong 10 năm (2011-2020), công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức cao, đạt bình quân 6,17%/năm, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, quy mô nền kinh tế tăng nhanh, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực với tỷ trọng đóng góp vào GDP của công nghiệp và dịch vụ đạt 72,7% vào năm 2020, đưa nước ta trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Tuy nhiên, mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 không hoàn thành, tăng trưởng kinh tế không đạt mục tiêu chiến lược đề ra, tốc độ có xu hướng giảm dần theo chu kỳ 10 năm, có nguy cơ tụt hậu và rơi vào bẫy thu nhập trung bình...

Nghị quyết xác định mục tiêu tổng quát đến năm 2030: Việt Nam cơ bản đạt được các tiêu chí của nước công nghiệp, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đời sống của nhân dân được nâng cao. Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh với năng lực sản xuất mới, tự chủ, khả năng thích ứng, chống chịu cao, từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền của các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn. Nông nghiệp phát triển nhanh, bền vững theo hướng sinh thái, ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ tiên tiến. Các ngành dịch vụ được cơ cấu lại đồng bộ, hiệu quả trên nền tảng công nghệ hiện đại, công nghệ số với chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh được nâng cao, hình thành được nhiều ngành dịch vụ mới, có giá trị gia tăng cao. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 7%/năm; GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng 7.500 USD. Ðóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế ở mức trên 50%; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu thế giới. Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, thuộc nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu khu vực châu Á.

Nghị quyết xác định nội dung cốt lõi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2021-2030 là thúc đẩy ứng dụng mạnh mẽ khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo ra bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của các ngành, lĩnh vực và cả nền kinh tế. Thực hiện chuyển đổi số toàn diện, thực chất, hiệu quả, bền vững. Nâng cao năng lực tự chủ về sản xuất, công nghệ và thị trường, bảo vệ và phát huy tốt thị trường trong nước... Giai đoạn 2031-2045, tập trung nâng cao chất lượng công nghiệp hóa và đẩy mạnh hiện đại hóa toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế và đời sống xã hội.

Theo Tổng cục Thống kê, tính đến hết năm 2023, quy mô nền kinh tế Việt Nam theo GDP ước đạt 10.221,8 nghìn tỷ đồng, tương đương 430 tỷ USD. GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2023 theo giá hiện hành ước đạt 101,9 triệu đồng/người, tương đương 4.284,5 USD, tăng 160 USD so với năm 2022. Thực tế, Việt Nam từ năm 2008 đã đạt ngưỡng 1.000 USD/người/năm, đến nay tăng đều hằng năm nhưng luôn nằm trong giới hạn thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, nếu đạt thu nhập bình quân đầu người 7.500 USD thì vẫn nằm trong “bẫy thu nhập trung bình”. Liệu nước ta có thể vượt qua để đạt khoảng 13.000 USD/người vào năm 2040 và cao hơn nữa vào năm 2045? Một ví dụ cho thấy, để từ nước có thu nhập trung bình thành nước thu nhập cao, tăng trưởng GDP bình quân của Hàn Quốc trong vòng 20 năm liền đều đạt 9%/năm. Với Việt Nam, giai đoạn 1991-2000, tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,56%/năm; giai đoạn 2001-2010, đạt 7,26%/năm và giai đoạn 2011-2020 chỉ đạt 5,95%/năm. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tăng trưởng kinh tế Việt Nam vẫn chưa đủ nhanh để thu hẹp khoảng cách phát triển.

Theo các chuyên gia kinh tế, trên cơ sở tư duy phát triển cần tập trung vào các vấn đề chủ yếu, trước hết là phát huy nhân tố con người. Phát huy truyền thống tốt đẹp, lấy con người làm chủ thể là nhân tố quyết định để biến khát vọng thịnh vượng của dân tộc sớm trở thành hiện thực như Chiến lược phát triển 2021-2030 chỉ ra: “Phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển; lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững. Phải có cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước; mọi chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân”. Thứ hai là thay đổi mô hình tăng trưởng. Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ đẩy nhanh quá trình thay đổi mô hình tăng trưởng của các quốc gia, làm biến đổi cơ cấu giữa các ngành kinh tế do quá trình tự động hóa theo hướng công nghệ số và kinh tế tuần hoàn. Quá trình công nghiệp hóa ở nước ta vừa phải tiếp tục xây dựng với công nghệ hiện đại một số ngành công nghiệp truyền thống như cơ khí, luyện kim, dầu khí, hóa chất cơ bản, vừa phải tập trung đầu tư để nhanh chóng hình thành một số ngành công nghệ mới như công nghiệp phần mềm, trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (AR), Internet vạn vật (IoT), Blockchain (được mệnh danh là sổ cái điện tử), ứng dụng công nghệ thông minh, phát triển nông nghiệp hữu cơ và du lịch, dịch vụ số.

Thứ ba là hoàn thiện thể chế. Để khắc phục những khiếm khuyết, Chiến lược phát triển 2021-2030 đề ra định hướng “Lấy cải cách, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập và thực thi pháp luật hiệu lực, hiệu quả là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy phát triển đất nước. Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực sản xuất, nhất là đất đai. Hệ thống pháp luật phải thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh tế mới”. Cùng với đó là hiện đại hóa cơ sở hạ tầng. Bổ sung, điều chỉnh quy hoạch xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng cho phát triển kinh tế số, bảo đảm hiệu quả tổng hợp và tính hệ thống, nhất là mạng lưới điện, hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin, hạ tầng dữ liệu. Rà soát, tháo gỡ các rào cản trong thể chế, pháp luật, chính sách theo hướng công khai, minh bạch, ổn định, bình đẳng trong hệ thống pháp luật về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng...

Trong bài viết “Quyết tâm xây dựng Đảng vững mạnh, nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Chúng ta tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh; kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với truyền thống tốt đẹp, khí phách và tinh hoa của dân tộc, không ngừng tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; với bản lĩnh, kiên định lý tưởng cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên; được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ, công cuộc đổi mới đất nước nhất định giành thắng lợi to lớn, Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, ấm no, đất nước ta ngày càng phát triển phồn vinh, hùng cường, vững bước đi lên CNXH, thực hiện thành công mục tiêu chiến lược mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra và di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, cũng là ước vọng của toàn dân tộc “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

09/06/2024

TRUNG TÂM TÍCH HỢP DỮ LIỆU: NỀN TẢNG CHO 'CHÍNH QUYỀN SỐ VÀ ĐÔ THỊ THÔNG MINH'

Theo ông Phạm Hồng Quảng, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Quảng Nam, việc xây dựng Trung tâm tích hợp dữ liệu sẽ đảm bảo năng lực triển khai chính quyền số và đô thị thông minh tại tỉnh Quảng Nam. Đồng thời, việc này đóng vai trò nền tảng, kết nối các hệ thống thông tin giữa các cơ quan Nhà nước trên địa bàn Quảng Nam.

Chuyển đổi số được xác định là mục tiêu trọng tâm của tỉnh Quảng Nam, trong đó phát triển hạ tầng chuyển đổi số là nhiệm vụ quan trọng. Để tìm hiểu việc phát triển hạ tầng chuyển đổi số của địa phương này, Đầu tư Tài chính đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Hồng Quảng, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Quảng Nam.

- Được biết thời gian qua, tỉnh Quảng Nam rất chú trọng vào chuyển đổi số, trong đó, vai trò của hạ tầng chuyển đổi số là rất quan trọng. Ông có thể cho biết về việc phát triển hạ tầng chuyển đổi số của tỉnh đang diễn ra như thế nào?

Hạ tầng số phải được ưu tiên đầu tư, hiện đại hóa và đi trước một bước để thúc đẩy chuyển đổi số. Phát triển hạ tầng số không chỉ tập trung vào những hệ thống mạng toàn quốc của các doanh nghiệp viễn thông lớn mà còn ở cấp cục bộ (cơ sở vật chất, các ứng dụng và công nghệ số...) tại từng tổ chức, doanh nghiệp để kết nối với hạ tầng số ra bên ngoài.

Tỉnh Quảng Nam đã ban hành nhiều văn bản để phát triển hạ tầng chuyển đổi số. Tính đến nay, toàn tỉnh hiện có 1.428.322 thuê bao điện thoại; Số thuê bao internet băng rộng là 931.306 thuê bao (trong đó số thuê bao internet cố định là 261.425 thuê bao, số thuê bao internet di động là 669.881 thuê bao).

Tỷ lệ thuê bao điện thoại thông minh đạt 76,8%. Toàn tỉnh phát triển được 2.112 trạm BTS, đường truyền cáp quang đã kéo đến cấp xã: 100% (241/241), cấp thôn: 96,5% (1197/1240); sóng thông tin di động 3G, 4G đã phủ sóng cấp xã: 100% (241/241), cấp thôn: 94,8% (1176/1240). 81,8% nhà văn hóa thôn có wifi (1014/1240); đã triển khai kết nối với mạng truyền số liệu chuyên dùng đến 100% các xã trên địa bàn tỉnh.

Tỉnh đã và đang triển khai đầu tư Xây dựng Chính quyền điện tử, Chính quyền số tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2021- 2025 với các hạng mục: Nâng cấp hạ tầng Trung tâm dữ liệu tỉnh, bảo đảm năng lực triển khai Chính quyền số; Nâng cấp, mở rộng hệ thống mạng WAN của tỉnh kết nối đến cấp xã; Xây dựng Kho cơ sở dữ liệu dùng chung tỉnh Quảng Nam;

Xây dựng các bộ cơ sở dữ liệu mở, cổng dịch vụ dữ liệu mở của tỉnh; Xây dựng Trung tâm giám sát, điều hành an toàn thông tin (SOC) toàn tỉnh đến nay một số hạng mục đã hoàn thành và đưa vào sử dụng có hiệu quả. Hệ thống Hội nghị truyền hình của tỉnh hiện có 16/20 điểm cầu Sở, ban, ngành, 18/18 điểm cầu cấp huyện, 241/241 xã, phường, thị trấn.

Các địa phương cũng đã tập trung triển khai nâng cấp hạ tầng CNTT như mạng LAN, hệ thống máy tính, Hội nghị truyền hình để phục vụ cho việc triển khai chuyển đổi số tại địa phương.

- Chuyển đổi số là một nhiệm vụ mới và đối mặt nhiều khó khăn, ông nhận thấy đâu là khó

03/06/2024

TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HƯỞNG ỨNG NGÀY MÔI TRƯỜNG THẾ GIỚI (5/6)

UBND tỉnh vừa ban hành công văn đề nghị các Sở, ngành, Hội, đoàn thể của tỉnh tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới (5/6), Tháng hành động vì môi trường năm 2024.

Theo đó, phát động Ngày Môi trường thế giới (5/6), Tháng hành động vì môi trường năm 2024 với chủ đề “Phục hồi đất, chống hạn hán và sa mạc hóa" (Land restoration, desertification and drought resilience).

UBND tỉnh yêu cầu tổ chức hoạt động hưởng ứng diễn ra xuyên suốt từ 1/6 - 30/6/2024, tạo thành chuỗi các hoạt động thuộc “Tháng hành động vì môi trường” năm 2024. Thông qua đó, nhằm kêu gọi các quốc gia trên toàn cầu cùng chung tay hướng tới những mục tiêu phục hồi đất đai, chống sa mạc hóa và khả năng chống hạn, làm chậm quá trình biến đổi khí hậu, bảo vệ tự nhiên, tăng cường sinh kế và an ninh lương thực cho hàng tỷ người trên toàn thế giới.

UBND tỉnh đề nghị các đơn vị có liên quan tiếp tục triển khai Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật về tăng cường các hoạt động quản lý chất lượng môi trường đất; rà soát, phân loại, theo dõi diễn biến chất lượng môi trường đất; điều tra, đánh giá, khoanh vùng khu vực đất bị ô nhiễm, có nguy cơ ô nhiễm; xây dựng và thực hiện kế hoạch xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường đất bị ô nhiễm theo quy định; có biện pháp ngăn chặn, giảm thiểu tối đa quá trình hạn hán trên địa bàn.

Đẩy mạnh các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng, sử dụng hiệu quả tài nguyên đất, phát triển sinh kế cho người dân ở những vùng có nguy cơ hoặc bị sa mạc hóa; kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải từ hoạt động xây dựng, công nghiệp, nông nghiệp, triển khai các giải pháp, thực hiện hiệu quả công tác phân loại rác thải tại nguồn.

Cùng với đó, áp dụng các công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, các mô hình kinh tế tuần hoàn hướng tới phát triển kinh tế xanh, phát triển bền vững nhằm hạn chế tối đa quá trình sa mạc hóa, ứng phó, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời, nghiên cứu các giải pháp trong việc phục hồi đất, phòng chống nguy cơ hạn hán, sa mạc hóa những khu vực chịu tác động, ảnh hưởng trực tiếp; nhân rộng các mô hình, sáng kiến, cách làm hay về bảo vệ môi trường.

UBND tỉnh yêu cầu tổ chức hưởng ứng phù hợp với điều kiện thực tế của từng cơ quan, đơn vị, báo cáo kết quả về Sở TN-MT trước ngày 20/7/2024. Sở TN-MT tổng hợp và báo cáo kết quả về Bộ TN-MT, UBND tỉnh trước ngày 31/7/2024.

24/05/2024

QUẢNG NAM THÀNH LẬP BẢO TÀNG ĐA DẠNG SINH HỌC CẤP TỈNH ĐẦU TIÊN CỦA CẢ NƯỚC

Bảo tàng đa dạng sinh học cấp tỉnh đầu tiên của cả nước đã được tỉnh Quảng Nam khai trương, đưa vào hoạt động.

Sáng 15.5, tại TP.Tam Kỳ (Quảng Nam), Sở TN-MT tỉnh Quảng Nam tổ chức khai trương Bảo tàng đa dạng sinh học cấp tỉnh.

Việc khai trương Bảo tàng đa dạng sinh học tỉnh Quảng Nam nhằm triển khai thực hiện đề án tổ chức Năm phục hồi đa dạng sinh học quốc gia - Quảng Nam 2024 với chủ đề "Chung sống hài hòa với thiên nhiên"; hưởng ứng Ngày quốc tế đa dạng sinh học 2024 và Ngày quốc tế bảo tàng 2024.

Bảo tàng đa dạng sinh học tỉnh là kết quả của dự án xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học tỉnh Quảng Nam (thực hiện từ năm 2015 – 2021).

Bảo tàng đa dạng sinh học tỉnh Quảng Nam có chức năng nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ, bảo quản, trưng bày, xây dựng, quản lý và khai thác cơ sở dữ liệu, tư liệu, mẫu vật về tài nguyên đa dạng sinh học của tỉnh; phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu, giáo dục, truyền thông nâng cao nhận thức về đa dạng sinh học.

Bảo tàng được bố trí thành các không gian trưng bày: khu vực giới thiệu chung; khu trưng bày ngành thực vật (thực vật bậc cao); khu trưng bày ngành động vật (chim, thú, bò sát, lưỡng cư, côn trùng, cá, động vật đáy); khu vực tương tác; phòng tư liệu; phòng nghiên cứu và khu vực lưu giữ - xử lý - bảo quản mẫu.

Ngoài ra, bảo tàng cũng đã sưu tập, lưu giữ hơn 3.700 bức ảnh; hơn 1.200 mẫu vật, tiêu bản động, thực vật (bao gồm thực vật bậc cao; các loài chim, thú, bò sát, lưỡng cư, côn trùng, cá và động vật đáy thuộc 719 loài, 274 họ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam), bộ dữ liệu, tài liệu, bản đồ số và các báo cáo khoa học.

Bên cạnh các sản phẩm thu thập từ dự án xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học tỉnh Quảng Nam, bảo tàng đã tiếp nhận các sản phẩm, mẫu vật từ nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh (đề tài "Xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống quản lý thông minh đa dạng sinh học hệ thực vật các khu rừng đặc dụng tỉnh Quảng Nam"); Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm (tiêu bản đồi mồi dứa); UBND H.Núi Thành (bộ xương con voọc chà vá chân xám).

Bảo tàng cũng bước đầu xây dựng mối hợp tác, chia sẻ chuyên môn với các bảo tàng, đơn vị như Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam; Bảo tàng thiên nhiên duyên hải miền Trung; Trung tâm Green Việt...

Phát biểu tại lễ khai trương, bà Lê Thủy Trinh, Phó giám đốc Sở TN-MT tỉnh Quảng Nam, cho hay việc đưa Bảo tàng đa dạng sinh học cấp tỉnh đầu tiên của cả nước đi vào hoạt động là điều cần thiết và mang nhiều ý nghĩa.

Với hệ thống cơ sở dữ liệu và bộ sưu tập các mẫu vật, việc giới thiệu và trưng bày ra mắt giới thiệu bảo tàng nhằm quảng bá các giá trị tài nguyên đa dạng sinh học, sự phong phú của các loài động thực vật quý hiếm, đặc hữu, đặc trưng của thiên nhiên ban tặng trong không gian sinh tồn trên địa bàn tỉnh. Ngoài ra, kết nối với các tổ chức, các nhà khoa học nhằm phát triển phong phú thêm về các mẫu vật cho bảo tàng, góp phần khơi dậy ý thức và trách nhiệm của mỗi cán bộ và người dân, tầng lớp học sinh các cấp trong việc giữ gìn, bảo tồn đa dạng sinh học của tỉnh nhà.

15/05/2024

TIẾP TỤC TRIỂN KHAI QUYẾT LIỆT CÁC BIỆN PHÁP CẤP BÁCH PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY RỪNG

Ngày 10/5, UBND tỉnh Quảng Nam có chỉ thị về việc tiếp tục triển khai quyết liệt các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh.

Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu thủ trưởng các sở, ban ngành và Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 31/CĐ-TTg ngày 4/4/2024 về việc chủ động, tăng cường các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR); Công điện số 41/CĐ-TTg ngày 27/4/2024 về việc tăng cường triển khai các biện pháp cấp bách PCCCR; Công điện số 43/CĐ-TTg ngày 1/5/2024 về việc tiếp tục quyết liệt triển khai có hiệu quả các biện pháp PCCCR trên phạm vi cả nước và chỉ đạo của UBND tỉnh tại Công văn số 2744/UBND-KTN ngày 19/4/2024 về tăng cường các biện pháp cấp bách PCCCR trên địa bàn tỉnh.

Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác PCCCR, tuyệt đối không chủ quan, lơ là, mất cảnh giác, nhất là trong thời kỳ cao điểm nắng nóng. Chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh nếu để xảy ra cháy rừng trên diện rộng và gây thiệt hại lớn về rừng trên địa bàn thuộc phạm vi quản lý.

Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chức năng và UBND cấp xã tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ rừng và PCCCR trên địa bàn. Rà soát các phương án, kịch bản phòng, chống cháy rừng để điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn nhằm phòng ngừa và ngăn chặn hiệu quả khi có cháy rừng xảy ra.

Bố trí lực lượng ứng trực 24/24 giờ trong suốt mùa nắng nóng; trực chốt chặn, kiểm soát người ra vào rừng, giám sát và hướng dẫn việc sử dụng lửa trong rừng và ven rừng của người dân; nghiêm cấm các hoạt động đốt xử lý thực bì và các hành vi dùng lửa khác có nguy cơ gây ra cháy rừng trong điều kiện thời tiết nắng nóng, khô hạn kéo dài. Kiên quyết xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân cố tình vi phạm các quy định của pháp luật về PCCCR và xử lý trách nhiệm quản lý của người đứng đầu khi để xảy ra cháy rừng trên địa bàn.

Want your business to be the top-listed Gym/sports Facility in Quang Nam?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Website

Address

Quang Nam